Bàn về cách điều trị tâm lý một ca hay bị bắt nạt
(Tamlynganpho.com)_ •I. Giới thiệu trường hợp: Chị Nguyễn Thị A, năm nay 26 tuổi, là con út trong gia đình bình dân tại Hà Nội. Chị A chưa lập gia đình, hiện sống chung với bố mẹ làm nghề buôn bán nhỏ tại nhà.(Nguồn ảnh: 24h.com)
Chị A có 1 anh trai và 1 chị gái đã lập gia đình và ra ở riêng. Chị A làm công việc dọn dẹp từ 6 - 9 h và 13 - 20 giờ hàng ngày tại một trung tâm thể dục thẩm mỹ của người chị họ nơi chị đã làm việc hơn 1 năm nay. Chị A biểu hiện hạn chế về năng lực tư duy ngôn ngữ và hàng ngày thường xuyên trò chuyện trên điện thoại với người yêu tưởng tượng vào những lúc đông người có mặt hoặc tại các không gian nhỏ hẹp; nội dung cuộc đàm thoại thường lặp lại, không logic. Chị A bị mọi người xem là “hoang tưởng”, ” không bình thường” và hay bị bắt nạt.
•II. Phân tích tâm lý nhân vật: Qua trò chuyện với người chị của chị A, chúng tôi được biết: chị A ”có vấn đề“, “chậm phát triển” từ nhỏ, “không biết gì” nhưng cũng chưa làm gì gây hại cho ai bao giờ, tuy chậm chạp nhưng tính tình thật thà, đơn giản, luôn nghe lời. Nhận thấy A không đủ năng lực học tập nên gia đình cho A nghỉ học sau khi A học hết lớp 5. Từ đó, A ở nhà phụ giúp bố mẹ làm công việc thường ngày. 20 tuổi, A có đi làm phụ may tại một nhà may của người quen trong thời gian ngắn rồi nghỉ việc vì không đáp ứng được yêu cầu của chủ nhà may. Từ đó, A ở nhà cho đến khi đi làm tại trung tâm thể dục thẩm mỹ dành cho nữ giới từ năm 2008.
Phòng TDTM - vẻ đẹp thăng hoa!
Công việc của chị A tại trung tâm là dọn dẹp phòng tập, phòng tắm, lấy nước cho giáo viên và khóa của trung tâm theo yêu cầu trực tiếp của người quản lý trung tâm là chị T vốn là người bạn thân của chị họ A. Chị A chăm chỉ nhưng chậm chạp, thêm một số lần “ham vui” mải nghe các học viên trò chuyện dẫn tới chậm hoàn thành mệnh lệnh nên thường bị chị T la mắng. Khi đó, chị A cũng thường giải thích một cách yếu ớt và lập tức đi làm theo mệnh lệnh. Tuy thường bị chị T mắng và rất sợ chị T, chị A vẫn tỏ ra rất gắn bó và thường lân la đến gần, trò chuyện cùng chị T.
Những ngày đầu đến làm tại trung tâm, chị A ăn mặc xoàng xĩnh thậm chí lôi thôi nhưng dần dà đã biết làm điệu với quần áo chỉnh tề, đi dép cao gót, uốn tóc… và chị A rất vui mừng với hình ảnh mới đó của mình, thích thú khi được mọi người khen và thường hỏi cách trưng diện, điểm trang của các bà, các chị trong trung tâm. Chị A cũng tích cực tham gia vào các buổi tập hàng ngày tại trung tâm cùng các học viên của trung tâm. Động tác của chị A thể hiện sự bắt chước một cách chậm chạp, rời rạc (so với một người bình thường tập hàng ngày tại trung tâm). Nhờ chăm chỉ luyện tập hàng ngày, chị A đã có được vóc dáng ưa nhìn. Thêm vào đó, việc A hàng ngày diện những bộ đồ ngày một sexy hơn; thường xuyên đứng đầu lớp (vị trí tiện quan sát giáo viên) và tập những động tác chậm chạp khiến chị A càng nhận được nhiều lời châm chọc của các thành viên trung tâm; thậm chí có giáo viên còn đẩy A một cách thô bạo (trước mặt cả phòng tập) xuống cuối lớp để tránh ảnh hưởng đến học viên. Khi được hỏi, chị A đã gọi giáo viên này là “yêu tinh” nhưng ngay sau đó lại quên ngay và những ngày sau không thể hiện bất kỳ cảm xúc tiêu cực nào đối với người giáo viên đó.
Giao tiếp - Ảnh hưởng xã hội - Bắt chước…
Qua một thời gian tiếp xúc, trò chuyện và quan sát, chúng tôi nhận thấy, chị A rất thích giao tiếp, thích trò chuyện với tất cả các thành viên tại trung tâm và thường xuyên lại gần, lắng nghe những cuộc trò chuyện (buôn chuyện) về nhiều chủ để của các nhóm nhỏ. Trong những cuộc trò chuyện này, chị A thường lắng nghe tích cực là chủ yếu, thỉnh thoảng nói chêm, hưởng ứng bằng việc tham gia một số câu đơn giản với trạng thái hưng phấn thể hiện rõ nét. Như thường lệ, chị A luôn bị các thành viên còn lại trêu chọc, bắt bẻ lời nói. Khi đó, chị A thường chống cự và tự bảo vệ mình một cách ngay lập tức, bằng những “lập luận”, “chứng cứ” yếu ớt về các nhận định, trải nghiệm của bản thân. Càng như vậy, chị A càng bị đánh giá “không bình thường” và trở thành một trong những chủ đề của các bà, các chị tại trung tâm. Mặc dù nhận biết được điều đó nhưng chị A luôn thể hiện là người vui vẻ, luôn muốn gần gũi mọi người; tốt bụng, sẵn sàng chia sẻ đồ dùng, đồ ăn với mọi người, kể cả những người thường xuyên “bắt nạt” mình. Thời gian gần đây, chị A còn thường xuyên chủ động gợi chuyện, kể chuyện với một số người ít “bắt nạt” mình xung quanh những câu chuyện thường nhật: ăn mấy bát cơm, mẹ nấu món gì, thích xem phim gì. Đặc biệt, trong các nội dung của các cuộc trò chuyện, chị A thường nhắc đến mẹ với sự trìu mến. Chị A ít kể về bố, anh chị.
Một điểm dễ dàng nhận thấy ở chị A khi giao tiếp đó là năng lực tư duy ngôn ngữ chậm. Chị A khó hiểu được những câu dài, sử dụng nhiều tính từ, động từ hoặc, tình huống kép với nhiều sự kiện xảy ra. Trong những trường hợp đó, A chỉ nắm được và phản hồi dựa trên một số từ ngữ đơn giản, nổi trội trong bình diện câu, sự kiện thường gặp nên giao tiếp thường lộn xộn, không logic, theo kiểu “ông nói gà, bà nói vịt”. Biểu hiện của A lúc đó thường lúng túng, vồ vập hoặc đờ đẫn. Chị liên tục lặp lại những câu đơn giản, quan sát đối tác rồi không nói nữa hoặc chuyển sang chủ đề/ các câu nói không liên quan hoặc bỏ đi chỗ khác. Khả năng sử dụng từ ngữ của A tương đối nghèo nàn, ngôn ngữ viết hạn chế, năng lực tư duy chữ và con số chậm; chị có thể viết lại một vài câu đơn.
Đặc biệt, như một minh chứng hùng hồn, hành động chị A thường gọi/ nhận điện (trò chuyện trên điện thoại) với một người nam giới mà cô gọi là “anh yêu” càng khiến mọi người ”cắm đinh” trong nhận thức về A là một người “hoang tưởng”, “có vấn đề“. Những cuộc trò chuyện thân mật này thường diễn ra trong khoảng không gian nhỏ, đông thành viên của trung tâm như nhà tắm, hành lang phòng tập hoặc đột ngột khi A đang ngồi với các nhóm nhỏ. Nội dung thường là các cuộc hẹn hò ăn uống, shopping, đi chơi…hoặc đơn giản là hỏi thăm đang làm gì…như bao đôi đang yêu khác. Tuy nhiên, nội dung thường lặp lại theo kiểu: “Em đang tắm, chờ em 30″ nữa nhé anh yêu. Đợi em 30′ nữa thôi. Em đang tắm mà. Em đang tắm. Em tắm xong là em về ngay. Đợi em 30′ nữa thôi nhé. Em mặc quần áo xong là em về ngay…” (lời của chị A) và tốc độ nói liên tục của A khiến người xung quanh tưởng tượng phía bên kia hoặc phải là một cái máy, hoặc là người không biết nói gì hoặc đơn giản là không có ai cả.
Người yêu em là ai?
Ban đầu, các cuộc trò chuyện này rất được các bà, các chị quan tâm, phần nhiều vì hiếu kỳ và muốn kiểm chứng cô A này “tâm thần thật”. Nhiều chị hỏi về người yêu của A, mỗi lần A lại vui vẻ và hào hứng kể về một người khác nhau, làm nghề khác nhau, độ tuổi khác nhau, những phương án trả lời thường gặp nhất là ca sỹ Đan Trường, Lam Trường… khiến ban đầu, chúng tôi suýt đồng nhất biểu hiện của chị A với chứng bệnh “hoang tưởng được yêu”. Trên thực tế, do không chắc về tính xác thực của màn hình phụ biểu hiện cuộc gọi, nhiều chị còn mượn điện thoại của chị A (chị A đồng thuận cho mượn) để xác minh và kết quả là không có cuộc gọi nào đến hay đi cả. Lâu dần, mọi người thành quen khi các cuộc điện thoại của A vẫn diễn ra đều đặn và mọi người có thêm chủ đề để bàn tán, trêu chọc chị A.
Điều đáng lưu ý là dù bị “phát giác” nhưng chị A hoàn toàn không biểu lộ cảm giác xấu hổ hay mặc cảm tội lỗi thường thấy mà vẫn rất hào hứng với cảm giác được quan tâm, được chú ý này. Và tất cả đều “đạt được” mục tiêu của mình: chị A được mọi người chú ý, mọi người có trò vui để chuyện phiếm khi tan tập. Và khác với chứng “hoang tưởng được yêu”, tình cảm của chị A chỉ dừng lại ở các cuộc điện thoại và một vài câu chuyện nhỏ khi chị được yêu cầu kể về người yêu của mình. (Cũng chính bởi vì những suy nghĩ và hành động của chị A dù “khác thường” nhưng chưa hề gây hại cho ai nên gia đình và đám đông vẫn chấp nhận được thay vì tìm kiếm cho chị sự giúp đỡ từ các chuyên gia tâm lý và góp phần trực tiếp giúp đỡ chị.)
Khi xem xét những biểu hiện hành vi và ngôn ngữ của chị A, chúng tôi nhận thấy một sự “nỗ lực” hòa nhập, để được thừa nhận rất lớn. Trong bối cảnh tại một trung tâm thể dục thâm mỹ nơi các bà, các cô phần lớn là có điều kiện kinh tế, phục trang xinh đẹp đua nhau làm đẹp và thể hiện mình ngày một đẹp hơn, chị A hàng ngày quan sát và bắt chước các bà, các cô từng hành động. Và hành vi điện thoại tưởng tượng cũng không nằm ngoài thực tế của chu trình “sao chép và bắt chước” đó. Hàng ngày, quan sát những người phụ nữ tại trung tâm gọi điện/ nhận điện thoại của những ông chồng/ người yêu với đủ cung bậc, sắc thái tình cảm: nũng nịu, giậu hờn, yêu thương… và vì nhận thức có hạn nên chị A đã bắt chước và “diễn” lại hoạt cảnh điện thoại đó. Và rất có thể, nguyên nhân sâu xa gắn với sự cô đơn, sự không được thừa nhận của mọi người (mà bấy lâu chị vẫn cảm nhận một cách vô thức) hoặc mối liên quan đến những điểm chưa được làm rõ trong sự thiếu hụt tình cảm, sự gắn đó với người cha, người anh và rộng hơn là những người khác giới mà bấy lâu nay chị A ít nhắc tới.
Ở đây, có thể thấy một mối liên hệ giữa khả năng tư tư duy hạn chế và hành động tưởng tượng của chị A. Có khả năng là do trí não hạn chế nên khả năng tưởng tượng và hành động sẽ ít bị/ được kiểm soát hơn; nên thiên về cái gọi là ‘bản năng tự nhiên’ hơn. Do đó, biểu hiện của chị như như những người chậm lụt khác hay tỏ ra hồn nhiên và dễ thương, và ít phòng vệ. Và chính cái bối cảnh các “bà đầm” ở Trung tâm thể hình lại làm cho chị A ứng xử như là ‘tâm thần, thần kinh’. Những biểu hiện tưởng chừng quá mức bình thường, kỳ cục, tư duy khó hiểu, hành động rồ điên… có thể được nhìn nhận khác đi nếu người ta không ở trong tình huống, hoặc hoàn cảnh bị đe dọa, khiến họ phải bảo vệ hình ảnh cái tôi và giá trị bản thân.
Nói tóm lại, theo chúng tôi vấn đề của chị A là do một số hạn chế về mặt nhận thức: năng lực tu duy, hiểu, thực thi các mệnh lệnh sai bảo…chậm chạp cộng với những nét tâm lý ngây thơ, bản năng tự nhiên, nhu cầu được thuộc về, được hòa nhập, được chú ý, được giống như người khác trong bối cảnh tại trung tâm thể dục thẩm mỹ nơi mà các bà, các cô đối nhìn nhận và đối xử với chị như một người có vấn đề về sức khỏe tinh thần đã tạo điều kiện cho chị A ứng xử như một người “hoang tưởng” và “có vấn đề“.
•III. Phác thảo phương pháp tiếp cận và tiên lượng:
Theo Phân tâm học mới với hướng tiếp cận từ góc độ liên nhân cách, với lý thuyết về sự gắn bó, lý giải các động cơ cá nhân và những ẩn ức, tổn thương tâm lý từ mối quan hệ với những đối vật có ý nghĩa. Cũng xuất phát từ cách nhìn vô thức và trải nghiệm quá khứ có ảnh hưởng quyết định tới người ta trong hiện tại, cái cách tiếp cận này nhắm tới chỉ ra đó là hệ quả của mối quan hệ liên nhân cách có ý nghĩa. Theo đó, việc phân tích những trải nghiệm hiện tại trong mối quan hệ với những sự kiện của quá khứ, gợi ra cho cá nhân nhớ lại những cảm xúc khi gặp chấn thương tâm lý đóng vai trò quan trọng.
Trong case của chị A, việc làm rõ mối quan hệ gia đình, đặc biệt là sự thừa nhận, gắn bó giữa cha -con, anh/chị - em có ý nghĩa to lớn trong việc làm sáng tỏ những tổn thương tâm lý mà chị A đã trải qua khi từ nhỏ đã là một trẻ “không bình thường” trong mắt người thân trong gia đình. Thông qua đó có thể thấy được sự liên hệ, ảnh hưởng của các trải nghiệm quá khứ đó đến hành vi, tâm lý hiện tại của chị A. Theo chúng tôi, ban đầu nhà trị liệu có thể sử dụng phương pháp hỏi chuyện lâm sàng để thu thập các thông tin về lịch sử cuộc đời, các thói quen, các khả năng, các cách thức ứng xử, các hình thức tự vệ, các năng lực và xu hướng nhân cách, góp phần vào việc tìm ra động thái tâm lý cá nhân cũng như những dữ liệu về nỗi đau khổ, những khó khăn, cản trở, về điều sâu kín mà chị A đang gặp phải. Bên cạnh đó, có thể áp dụng liệu pháp liên tưởng tự do để tìm hiểu những sự kiện thời thơ ấu của chị A. Với những nét tâm lý “ngây thơ” của một cá nhân có những hạn chế về trí tuệ sẽ giúp cá nhân bộc lộ dễ dàng hơn với ít cơ chế phòng vệ hơn, tuy nhiên hạn chế về mặt ngôn ngữ, diễn đạt của chị A sẽ khiến nhà trị liệu gặp những khó khăn nhất định trong việc theo dõi. Bên cạnh đó, nhà tâm lý cũng cần có những buổi làm việc với người thân của chị A bởi không đâu khác, chính gia đình là môi trường quan trọng nhất, là điểm tựa giúp chị A “thỏa mãn” nhu cầu được yêu thương, được thừa nhận - nhu cầu vô cùng quan trọng của con người.
Ngoài ra, nhằm làm rõ những nét hạn chế trong năng lực tư duy, ngôn ngữ của chị A, theo chúng tôi nhà tâm lý cần sử dụng các test chuẩn đoán năng lực tư duy, ngôn ngữ để từ đó có những kế hoạch giúp đỡ phù hợp với năng lực nhận thức của chị. Theo như giả thiết về vấn đề của chị A mà chúng tôi đã nêu ở trên, vấn đề của chị A có thể được coi là do nhận thức sai lầm của chị trong bối cảnh tại trung tâm thể dục thẩm mỹ. Chính sự hạn chế về mặt nhận thức của chị A đã khiến chị diễn giải sai các sự kiện trong thực tế, khi quan sát hành xử của các bà, các cô tại trung tâm. Việc chị bắt chước và tưởng tượng ra người yêu để cùng trò chuyện trên điện thoại theo quan điểm cá nhân chúng tôi xuất phát từ sự cô đơn và nhận thức, niềm tin sai lầm về việc được yêu thương, được thừa nhận giống như những người phụ nữ khác. Do đó, việc cần làm là để cho chị A đối diện với nhận thức sai lầm đó của mình, bên cạnh việc chỉ ra nỗi đau khổ, nguồn gốc của nỗi cô đơn mà chị đang đương đầu thì cần để chị đối diện với thực tế, với nỗi sợ hãi cô đơn, không được thừa nhận của mình và quan trọng nhất là đối diện với hình ảnh bản thân mình - như bao người khác, ai cũng có những hạn chế. Theo chúng tôi, việc giúp chị A có được nhận thức hợp lý về bản thân là phương pháp quan trọng nhất giúp chị A đương đầu với những tình huống nảy sinh ở nhiều môi trường khác nhau, giúp chị có được những hành vi hợp lý.
Bên cạnh những tác động về mặt nhận thức, về mặt hành vi, nhà trị liệu có thể giúp chị chấm dứt hoặc ít nhất là làm giảm hành vi gọi điện thoại tưởng tượng của chị - một hành vi không phù hợp với thực tế. Theo chúng tôi cần áp dụng phương pháp giải mẫn cảm có hệ thống để từng bước giúp chị A đối diện với hành vi không phù hợp của mình. Trước tiên, nhà trị liệu có thể để chị A đối diện với những tình huống khi chị gọi điện thoại mà không ai chú ý, không ai quan tâm, hỏi thăm…; đối diện với nhân vật người yêu không có thật của mình; đối diện với việc không gọi điện thoại tưởng tượng khi lâm vào tình huống tâm lý khó khăn…Đồng thời, hướng chị tiến tới các hành vi tích cực hơn thông qua giao tiếp với mọi người.
Theo các nhà tâm lý học hành vi thì hành vi nếu được củng cố sẽ tăng lên về mặt tần suất hay được lặp đi, lặp lại; còn nếu không được củng cố hay bị trừng phạt thì sẽ không lặp lại nữa. Nói cách khác, chính cảm giác được chú ý, được quan tâm, được giống mọi người là nguyên nhân, nhu cầu được thuộc về là động cơ và sự châm chọc, và chính thái độ và cách hành xử của các cá nhân ở trung tâm thẩm mỹ đã vô tình củng cố cho hành vi không phù hợp của chị A. Nếu mọi người có thái độ tôn trọng và biết ứng xử đúng mực, trung thực và chân thành thì chắc chắn sự ‘ngớ ngẩn’, ‘bất thường’, ‘kỳ cục’, ‘buồn cười’ sẽ giảm đi và chị A sẽ ít có hiện tượng ‘khoe hàng’ hoặc biểu hiện “phô trương”. Tuy thật khó để thực hiện những điều chúng ta tin là tốt lành và lợi lạc với môi trường bên ngoài, cũng như thật khó để thay đổi nhận thức, hành vi của cả đám đông thành viên phòng tập trong cách hành xử đối với chị A song việc tạo một môi trường mang tính nâng đỡ, tôn trọng và thấu cảm có ý nghĩa vô cũng quan trọng đối với sự phát triển tâm lý của chị A.
Bài viết chưa có phản hồi. Mời bạn viết phản hồi.
Viết phản hồi
Bạn phải đăng nhập để có thể gửi phản hồi.